ĐỒNG HỒ WEBSITE

Tài nguyên dạy học

TỪ ĐIỂN ANH - VIỆT ONLINE

Từ Điển Online

CA KHÚC HỌC TRÒ


CHÚC BẠN VUI VẺ

 photo good_zpsf0400c7d.gif

ĐIỀU TRA

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    LỄ ĐÓN NHẬN DANH HIỆU TRƯỜNG THPT ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA

    Gốc > Bài viết > Bài viết >

    “ LỊCH SỬ HẢI HẬU: MẢNH ĐẤT – CON NGƯỜI,TRUYỀNTHỐNG - ĐỔI MỚI”

     

    BÀI DỰ THI TÌM HIỂU

    “LỊCH SỬ HẢI HẬU: MẢNH ĐẤT-CON NGƯỜI,

    TRUYỀN THỐNG-ĐỔI MỚI”

     

    Câu 1: Địa danh đầu tiên của mảnh đất Hải Hậu có tên trên bản đồ quốc gia từ năm nào? Nêu ngày, tháng, năm thành lập huyện Hải Hậu, tên gọi các tổng khi thành lập và do những vị Thuỷ Tổ nào có công khai sáng?

              + Xã Quần Anh là địa danh đầu tiên của mảnh đất Hải Hậu có tên trên bản đồ quốc gia từ năm 1511.

    + Ngày 27/12/1888, thành lập huyện Hải Hậu gồm 4 tổng: Quần Anh, Kiên Trung, Ninh Nhất, Tân Khai.

    + Do các vị Thuỷ tổ: Trần Vu, Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cập, Vũ Duy Hoà, Nguyễn Công Trứ, Đỗ Tông Phát có công khai sáng. Tiếp nối con cháu Tứ Tổ cùng với Cửu Tộc: Lại, Nguyễn, Lê, Bùi, Phan, Đoàn, Đỗ và Trần, Vũ  khác tiếp tục khai khẩn, quai đê, lấn biển tạo lập nên mảnh đất và các giá trị văn hoá của người Hải Hậu.

    Chi tiết cụ thể như sau::

     Năm 1511, vua Lê Tương Dực (1509-1516) phê chuẩn Quần Cường ấp thành xã Quần Anh: phía Đông là Cồn Quay, Cồn Bẹ (nay thuộc xã Hải Thanh và thôn Xuân Hà xã Hải Đông), phía Tây là Núi Nẹ, Thần Phù (nay nằm ngoài khơi huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình), phía Bắc giáp Đại Hà (sông lớn-sông Ninh Cơ), phía Nam vươn ra biển ở độ sâu 18 sải nước. Từ đâyQuần Anh có tên trên bản đồ quốc gia.. Ngày 27/12/1888 (Nguyễn Đồng Khánh thứ 3, năm Quý Mùi) Kinh Lược Bắc Kỳ ra quyết định, được Tổng Trú sứ Trung-Bắc kỳ chuẩn y thành lập huyện Hải Hậu.

    Năm 1463, cụ Trần Vu làm sớ tâu Vua Lê cho khai khẩn, được Vua phong chức quan Doanh điền phó sở sứ. Cụ cùng 3 người làng là Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cập hiệp lực khẩn hoang. Ngày đầu phải trú chân bên Xối Nước (nay là xã Cát Thành huyện Trực Ninh), ngày ngày bắt theo con nước sang bãi khẩn hoang. Tứ Tổ phân công cụ Trần Vu chủ sự, trên chịu trách nhiệm với triều đình, dưới lo tổ chức khai hoang phá hoá, lo đời sống vật chất tinh thần cho dân làng yên vui. Cụ Vũ Chi chỉ huy trị thuỷ, đắp đê, khai sông, đắp đường, kiến thiết đình, chùa, cầu cống, mở mang chợ búa; cụ Hoàng Gia mở trường dạy học; cụ Phạm Cập quản lý kinh tế, ruộng đất, hộ tịch hộ khẩu.

    Ảnh Huyen Hải Hậu

    Tiếp nối con cháu Tứ Tổ cùng với Cửu Tộc: Lại, Nguyễn, Lê, Bùi, Phan, Đoàn, Đỗ và Trần, Vũ  khác tiếp tục khai khẩn đắp được các con đê ngăn nước mặn phía Nam đê Hồng Đức (nam đường 56) gồm: đê Nhất Trùng, Nhị Trùng, Tam Trùng, Tứ Trùng, Ngũ Trùng và đê Tiền Cồn; đồng thời đắp tiếp con đê Đông nối với đê Tiền Cồn và đê sông Ninh từ Ninh Cường đến Ninh Mỹ mở ra vùng đất mới cho Quần Anh có chiều dài trên 10 km. Đến năm 1827 thăng lên Tổng Quần Anhgồm: Kim Đê, Quần Anh Thượng, Quần Anh Trung, Quần Anh Hạ, Ninh Cường, Lác Môn trại, Lác Môn thuỷ cơ phường, Tân Lác Lý, Phú Lễ ấp (Đến năm 1887 vì tránh miếu hiệu vua Tự Đức là Dực Anh nên chữ Anh, chữ kim phải đổi thành chữ Phương).

    Năm 1619, An phủ sứ Vũ Duy Hoà người làng Mộ Trạch huyện Đường An tỉnh Hải Dương cùng các con cháu họ hàng và nhân dân Cẩm Hà Trang tổ chức khẩn hoang vùng đất cửa sông Hà Lạn lập làng Hà Lạn. Đến năm 1888, sáp nhập Hà Lạn với các xã Lạc Nam, Kiên Trung, Trà Trung, Trà Hạ, Hội Khê, Hà Quang (thuộc tổng Kiên Lao, Cát Xuyên) lập tổng Kiên Trung.

    Năm 1829, Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ mộ dân khai khẩn vùng đất Tây Nam từ Tân Lác Lý trở ra phía biển; đến năm 1838 thành tổng Ninh Nhất gồm với 10 làng mới: An Lạc, An Phú, An Lễ, An Phong, An Nghiệp, An Nhân, An Trạch, An Nghĩa, An Đạo và Phúc Hải, gọi là “Cửu An, Nhất Phúc”.

    Năm 1864, Tiến sỹ Đỗ Tông Phát mở đất phía Đông lập các làng: Hoà Định, Văn Lý, Tang Điền, Kiên Chính; năm 1888 thành tổng Tân Khai.

    Câu 2: Sau ngày thành lập huyện Hải Hậu, nhân dân tiếp tục khai khẩn lập thêm những tổng nào? Nêu điều kiện địa lý, dân số, đơn vị hành chính cấp xã hiện nay của huyện Hải Hậu?

    + Sau ngày thành lập huyện Hải Hậu (27/12/1888), nhân dân tiếp tục khai khẩn lập thêm 2 tổng: Năm 1890 lập tổng Ninh Mỹ, năm 1893 lập tổng Quế Hải.

    +  Hiện nay Hải Hậu là huyện ven biển phía Nam tỉnh Nam Định, có diện tích tự nhiên 230,2 km2 với 32 km đê biển, 31 km đê sông. Dân số hơn 29 vạn người. Số đơn vị hành chính: 32 xã và 3 thị trấn.

       : Năm 1890 cắt ba trại Quần Phương Thượng Trại, Trung Trại, Hạ Trại; 2 lý Quỳnh Phương, Lục Phương là đất cũ của Tổng Quần Phương và 6 làng mới vừa khai khẩn là Ninh Mỹ, Ninh Cường Trại, Phú Văn Lý, Phú Văn Nam, Phú Văn Quý, Phú Lễ Ấp thành lập tổng Ninh Mỹ. Đến thời Bảo Đại (1926-1945) vùng Gót Tràng nơi cuối tả ngạn sông Ninh Cơ bãi bể bồi nhanh, các cụ người Quần Anh cùng các cư dân nơi khác hợp sức khai khẩn lập lên khu Nam Cồn, Long Châu, lập xã Thịnh Long. Đến năm 1930 sáp nhập xã Hoàng Hải, Xuân Thuỷ, Xuân An, Xuân Đài vào Tổng Ninh Mỹ. Năm 1965 lập thêm xóm Tân Anh thuộc xã Hải Thịnh. Năm 1893, thành lập Tổng Quế Hải gồm 6 xã: Trung Phương, Thanh Trà, Trùng Quang, Liên Phú, Quế Phương, Doanh Châu; đến năm 1896 nhập thêm xã Hải Nhuận. Năm 1939 huyện Hải Hậu thăng thành phủ Hải Hậu. Đến tháng 8 năm 1945 huyện Hải Hậu có 61 lý, thôn, xã và Cồn thuộc 6 Tổng: Quần Phương, Kiên Trung, Ninh Nhất, Ninh Mỹ, Tân Khai, Quế Hải. Thực hiện chủ trương về việc phân chia lại địa giới hành chính các xã, năm 1956 Huyện uỷ, Uỷ ban  huyện đã chỉ đạo  đổi tên các xã đều lấy chữ “Hải” làm đầu. Toàn huyện gồm: 39 xã là: Hải Vân, Hải Nam, Hải Hưng, Hải Thắng, Hải Bắc, Hải Trung, Hải Thành, Hải Minh, Hải Bình, Hải Anh, Hải Hùng, Hải Cát, Hải Đường, Hải Phong, Hải An, Hải Toàn, Hải Giang, Hải Ninh, Hải Phú, Hải Cường, Hải Châu, Hải Hoà, Hải Thịnh, Hải Tiến, Hải Chính, Hải Triều, Hải Lý, Hải Xuân, Hải Tây, Hải Đông, Hải Quang, Hải Lộc, Hải Hà, Hải Thanh, Hải Phúc, Hải Phương, Hải Sơn, Hải Long, Hải Tân. Đến năm 1958 theo Quyết định của Chính phủ  thị trấn Cồn được thành lập gồm một phần diện tích của xã Hải Tiến, Hải Tân... tách ra. Năm 1968 nhập các xã: Trực Đại, Trực Tiến, Trực Thắng, Trực Phú, Trực Thái, Trực Hùng, Trực Cường nhập vào Hải Hậu; tháng 3/1997 các xã trên tách ra nhập về huyện Trực Ninh. Ngày 26/02/1997, Chính phủ ban hành Nghị định số 19/CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính: trên cơ sở xã Hải Thịnh thành lập thị trấn Thịnh Long

    Câu 3:

    - Chính quyền dân chủ nhân dân huyện Hải Hậu được thành lập ngày, tháng, năm nào? Ai là Chủ tịch huyện đầu tiên?

     - Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Hải Hậu gồm những đảng viên nào?Ai là Bí thư chi bộ đầu tiên?

    - Nêu địa điểm, thời gian diễn ra sự kiện thành lập Đảng bộ huyện Hải Hậu? Ai là Bí thư Huyện uỷ đầu tiên?

            + Chớp thời cơ cách mạng, ngày 21/8/1945 những người cộng sản Hải Hậu đã lãnh đạo nhân dân toàn huyện cờ đỏ sao vàng thẳng tới phủ đường tịch thu ấn tín, kết thúc sự thống trị của chế độ phong kiến, thực dân, phát xít bạo tàn trên quê hương Hải Hậu, tuyên bố thành lập chính quyền dân chủ nhân dân, đồng chí Đặng Xuân Thiều làm Chủ tịch huyện lâm thời.

    + Chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên được thành lập gồm 5 đồng chí đảng viên: Nguyễn Thiết Giáp, Trần Văn Chử, Vương Văn Tộ, Nguyễn Kế Chí và Nguyễn Trường Thuý, đồng chí Nguyễn Thiết Giáp làm Bí thư Chi bộ đầu tiên.

    + Tháng 6/1947, Hội nghị Đảng bộ huyện Hải Hậu lần thứ nhất đã họp tại nhà từ họ Lại xã Hải Long để công bố Quyết định của Tỉnh uỷ Nam Định về việc thành lập Huyện uỷ và chỉ định Ban chấp hành Đảng bộ huyện gồm các đồng chí: Vũ Thiện, Phạm Văn Xuân, Trần Văn Chử, Trần Thân, Phan Ưng, Phạm Văn Khâm, Trần Khuê, Nguyễn Thị Minh. Đồng chí Vũ Thiện làm Bí thư Đảng bộ huyện đầu tiên của Hải Hậu.

    Câu 4:

    Nêu các biểu hiện và ý nghĩa của truyền thống “Tứ tính, Cửu tộc”? Nét đẹp văn hoá của mảnh đất, con người Hải Hậu xưa và nay?

    + Các biểu hiện của truyền thống “Tứ tính, Cửu tộc” là: “Nếp nhà nhân hậu, Phúc, Đức, Cần, Kiệm; mây sáng, trời trong; con cháu thảo hiền”. Các giá trị đó đã tô thắm thêm tinh thần đoàn kết, lòng quả cảm, trí thông minh, sáng tạo, tính cần cù, nhẫn nại của con người Hải Hậu vốn đã kế thừa từ nền văn minh sông Hồng trong hành trang mở đất.         

    + Nét đẹp văn hoá Hải Hậu xưa: “Mỹ tục khả phong”, “Thiện tục khả phong”. Ngày nay là huyện điển hình văn hoá cấp huyện của cả nước.

    + Đó là những giá trị truyền thống quý báu, các thế hệ người Hải Hậu dù ở quê hương hay đang ở mọi miền của Tổ quốc đều tự hào và lấy đó làm hành trang vô giá để lập thân, lập nghiệp.

    + Truyền thống tốt đẹp đó đã trở thành sức mạnh tinh thần to lớn để Đảng bộ, quân và dân Hải Hậu vượt qua mọi gian khó, vững bước trên con đường hội nhập, tiến lên văn minh hiện đại

    Cụ thể như sau: Đó là quá trình quần tụ các anh tài, với tinh thần đoàn kết, tự lực, tự cường, cần cù, sáng tạo, thông minh và hiếu học; Là sự kết tinh cao độ trí tuệ, mồ hôi, công sức và cả máu xương của bao thế hệ để "Biến bãi biển hoang vu trở thành làng mạc, cơ nghiệp bờ xôi ruộng mật, truyền để giống nòi”, dựng nên "Nếp nhà nhân hậu, phúc, đức, cần, kiệm, mây sáng, trời trong, con cháu thảo hiền". Truyền thống hào hùng, vẻ vang đó đã sớm được phong tặng những danh hiệu cao quí: "Mỹ tục khả phong" (1862), "Thiện tục khả phong" (1867) và được nhân dân gọi là truyền thống “Tứ tính, Cửu tộc” đời đời tiếp nối tô thắm trở thành bản sắc văn hoá riêng có của mảnh đất, con người Hải Hậu.

    Những giá trị văn hoá sâu sắc đó lại tiếp nối được nhân lên dưới lá cờ của Đảng, trở thành truyền thống văn hoá cách mạng, là hành trang của mảnh đất con người nơi đây vượt lên bom đạn “tiếng hát át tiếng bom” để dựng xây cơ nghiệp. Năm 1967, Đảng bộ Hải Hậu là một trong ba Đảng bộ “4 tốt” đầu tiên của miền Bắc, một trong 53 Đảng bộ huyện trong sạch, vững mạnh đợt đầu của cả nước; 32 tập thể và cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng (18 xã, thị trấn và 12 cá nhân anh hùng Lực lượng vũ trang; xã Hải Quang và trường THPT A Hải Hậu Anh hùng lao động); 128 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng. Từ năm 1978 đến nay, 33 năm liền Hải Hậu là điển hình toàn quốc về văn hoá cấp huyện của cả nước, là huyện 3 lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động. Đó là niềm tự hào, là truyền thống văn hoá đặc sắc, truyền thống anh hùng và là hành trang tiếp bước để Hải Hậu phấn đấu  trở thành 1 trong 5 huyện điểm của cả nước đạt tiêu chí nông thôn mới vào năm 2015.

    Câu 5:

    - Hãy kể những danh hiệu cao quý mà Đảng và Nhà nước đã trao tặng cho tập thể và những người con quê hương Hải Hậu?

    - Nêu các danh hiệu của Đảng bộ huyện Hải Hậu từ ngày thành lập đến nay?

    + Thời kỳ kháng chiến: Nhà nước phong tặng huyện và các xã: Hải Thịnh (thị trấn Thịnh Long), Hải Hưng, Hải Phương, Hải Trung, Hải Đường, Hải Bắc, Hải Phong, Hải Phú, Hải Giang, Hải Thanh, Hải Minh, Hải Anh, Hải Đông, Hải Chính, Hải Triều, thị trấn Cồn, Hải Hoà, Hải Châu Anh hùng lực lượng vũ trang; xã Hải Quang Anh hùng lao động.

    + Thời kỳ đổi mới: Huyện được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động; Anh hùng lực lượng vũ trang; Huân chương độc lập; huyện điển hình văn hoá thông tin cấp huyện của cả nước; Công ty Thuỷ nông, Trường THPTA Anh hùng lao động.

    + Cá nhân: 128 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; 13 Anh hùng lực lượng vũ trang (Trần Văn Chử, Đỗ Văn Chiến, Kim Ngọc Quản, Nguyễn Quang Hạnh, Nguyễn Huy Hiệu, Bùi Văn Quảng, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Phạm Viết Bảo, Vũ Xuân Thiều, Nguyễn Văn Sinh, Vũ Quang Trung, Vũ Giao Hoan, Nguyễn Thế Cự).

    + Từ ngày thành lập đến nay Đảng bộ huyện Hải Hậu: là một trong 3 Đảng bộ huyện đầu tiên của miền Bắc được Trung ương công nhận “Đảng bộ 4 tốt” và là một trong 53 Đảng bộ huyện được công nhận “Đảng bộ vững mạnh” đợt đầu của cả nước. Đảng bộ huyện Hải Hậu luôn được Tỉnh uỷ công nhận là “Đảng bộ trong sạch, vững mạnh”.

     

    Câu 6:

     Huyện Hải Hậu đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2015 theo phương châm nào?

    Huyện và các xã, thị trấn: Phát động toàn dân tích cực hưởng ứng phong trào thi đua “Toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới” theo phương châm: “Từ gia đình ra xóm (TDP), từ xóm (TDP) lên xã, thị trấn”; “Mỗi hộ nông dân có thêm một nghề”; “Mỗi xã có tối thiểu một làng nghề” nhằm phát huy nội lực, vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư để mọi tầng lớp nhân dân chung sức, đồng lòng tham gia xây dựng nông thôn mới

         Câu 7:

    Nêu tiêu chí xóm (TDP) nông thôn mới, gia đình nông thôn mới của huyện Hải Hậu?

    - Căn cứ Quyết định 242/QĐ-UBND ngày 16/02/2011 của UBND tỉnh Nam Định về việc ban hành Bộ tiêu chí NTM, UBND huyện Hải Hậu đã vận dụng xây dựng Tiêu chí xóm (TDP) nông thôn mới như sau:

    + Xóm NTM: có 75% số hộ NTM.

    + Có đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển.

    + Tổ chức sản xuất canh tác theo quy hoạch, kế hoạch, giá trị sản xuất bình quân năm/ha canh tác đạt chỉ tiêu kế hoạch của xã, TT.

    + Thực hiện tốt quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, xóm, TDP theo tiêu chuẩn NTM.

    + Đường trục xóm, dong xóm được cứng hoá theo tiêu chí NTM.

              + Hệ thống thuỷ lợi có người quản lý, đảm bảo cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh.

    + Hệ thống rãnh thoát nước trong khu dân cư được cứng hóa đạt trên 75%.

    + Có đời sống văn hoá tinh thần lành mạnh, có nhà văn hoá xóm, TDP, sân thể thao, tủ sách thư viện; thường xuyên tổ chức các hoạt động câu lạc bộ, văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao.

    + Tỷ lệ người tham gia các hình thức đóng bảo hiểm y tế đạt trên 40%.

    + Tỷ lệ hộ nghèo dưới 3%.                                                   

    + Có môi trường xanh sạch đẹp.

    + Tổ chức Đảng, Chính quyền vững mạnh; đoàn thể chính trị - xã hội cơ sở xóm, TDP đạt tiên tiến.

    - Căn cứ Quyết định 242/QĐ-UBND ngày 16/02/2011 của UBND tỉnh Nam Định về việc ban hành Bộ tiêu chí NTM, UBND huyện Hải Hậu đã vận dụng xây dựng Tiêu chí gia đình nông thôn  mới như sau:

    + Gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, Pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia các phong trào xây dựng NTM của địa phương.

    + Cải tạo ao, vườn, chuồng, khai thác hiệu quả kinh tế VAC.

    + Có nghề, tích cực tham gia học nghề, thêm nghề: (sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,…), tiếp thu, ứng dụng KH-KT vào xây dựng NTM.

    + Có thu nhập khá và năm sau cao hơn năm trước.

    + Con em trong độ tuổi đi học tốt nghiệp Trung học cơ sở được tiếp tục học bậc Trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề).

    + Có 50 % thành viên trong gia đình tham gia các hình thức đóng bảo hiểm y tế.

    + Có nhà ở kiên cố; có vườn, sân, ngõ, khuân viên nhà ở sạch, đẹp; có công trình vệ sinh đạt tiêu chuẩn theo quy định của ngành Y tế; sử dụng nước hợp vệ sinh.

    + Thu gom rác thải và xử lý nước thải theo quy định.

     

    Câu 8:

    Huyện Hải Hậu đã huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới như thế nào? Bản thân đã làm gì để chung sức xây dựng Hải Hậu thành huyện điểm Nông thôn mới của cả nước?

    + Huy động tối đa mọi nguồn lực và đóng góp của nhân dân, bằng tiền, vật tư, ngày công hoặc góp đất… để xây dựng NTM (nguồn vốn Nhà nước hỗ trợ, vốn huyện, vốn ngân sách xã, vốn nhân dân đóng góp, vốn doanh nghiệp, vốn con em ủng hộ, vốn khác).

    + Kế thừa tối đa các công trình đã có kết hợp bổ sung nâng cấp, xây dựng mới phù hợp với điều kiện của từng địa phương, theo phương châm: Xã, thị trấn lo xây dựng các công trình chính của xã, thị trấn; các xóm (TDP)  vận động nhân dân đóng góp xây dựng các công trình của xóm (TDP).

    Tổng vốn huy động đầu tư xây dựng NTM đến tháng 12/2011 đạt 213.295 triệu đồng, trong đó:

    - Nguồn vốn NTM hỗ trợ 59.487 triệu đồng, bằng 27,89 %;

    - Vốn huyện 2.525 triệu đồng, bằng 1,18 %;

    - Vốn ngân sách xã 50.487 triệu đồng, bằng 23,67 %;

    - Vốn nhân dân đóng góp 61.424 triệu đồng, bằng 28,8 %;

    - Vốn con em ủng hộ 3.066 triệu đồng, bằng 1,44 %;

    - Vốn khác 36.305 triệu đồng, bằng 17,02 %.

    + Bản thân đã làm gì để chung sức xây dựng Hải Hậu thành huyện điểm Nông thôn mới của cả nước:

    - Nhận thức về chương trình xây dựng NTM

    - Hành động của bản thân (sát với điều kiện, nhiệm vụ đang đảm nhiệm)

    Câu 9:

     Hãy tự chọn và viết về 1 trong 2 nội dung sau (không quá 4 trang giấy khổ A4 hoặch vở học sinh):

    - Cảm nhận của mình về truyền thống “Tứ tính, Cửu tộc” và nét đẹp văn hoá Hải Hậu? Bản thân cần làm gì để phát huy nét đẹp văn hoá của mảnh đất, con người Hải Hậu xưa và nay?

     - Nêu một điển hình tiêu biểu (tập thể hoặc cá nhân) trong xây dựng nông thôn mới ở địa phương, đơn vị? Bản thân phải làm gì để góp phần xây dựng nông thôn mới ở địa phương, đơn vị mình?

    9.1: Cảm nhận của mình về truyền thống “Tứ tính, Cửu tộc” và nét đẹp văn hoá Hải Hậu? Bản thân cần làm gì để phát huy nét đẹp văn hoá của mảnh đất, con người Hải Hậu xưa và nay?

        Qua bài tìm hiểu về “ lịch sử Hải Hậu: mảnh đất-con người, truyền thống- đổi mới” . Tôi càng hiểu sâu sắc về truyền thống  của con người quê mình. Đặc biệt với “Tứ tính, Cửu tộc”: “Nếp nhà nhân hậu, Phúc, Đức, Cần, Kiệm; mây sáng, trời trong; con cháu thảo hiền”.Các giá trị đó đã tô thắm thêm tinh thần đoàn kết, lòng quả cảm, trí thông minh, sáng tạo, tính cần cù, nhẫn nại của con người Hải Hậu vốn đã kế thừa từ nền văn minh sông Hồng trong hành trang mở đất. Đó là những giá trị truyền thống quý báu, các thế hệ người Hải Hậu dù ở quê hương hay đang ở mọi miền của Tổ quốc đều tự hào và lấy đó làm hành trang vô giá để lập thân, lập nghiệp. Truyền thống tốt đẹp đó đã trở thành sức mạnh tinh thần to lớn để Đảng bộ, quân và dân Hải Hậu vượt qua mọi gian khó, vững bước trên con đường hội nhập, tiến lên văn minh hiện đại.

    Đó là niềm tự hào, là truyền thống văn hoá đặc sắc, truyền thống anh hùng và là hành trang tiếp bước để Hải Hậu phấn đấu  trở thành 1 trong 5 huyện điểm của cả nước đạt tiêu chí nông thôn mới vào năm 2015.

    Là một người con của Hải Hậu quê mình, Tôi luôn ý thức rõ được điều đó. Vì vậy với tư cách và nhiệm vụ của một giáo viên đứng trên mục giảng, tôi luôn nhắc nhở và giáo dục thế hệ học sinh phấn đấu học tập, rèn luyện, trau dồi vững trắc kiến thức để  thành tài, tiếp nối  và làm rạng danh truyền thống của một vùng đất hiếu học – Hải Hậu.

    9.2: Nêu một điển hình tiêu biểu (tập thể hoặc cá nhân) trong xây dựng nông thôn mới ở địa phương, đơn vị? Bản thân phải làm gì để góp phần xây dựng nông thôn mới ở địa phương, đơn vị mình?


    Bản đồ Thịnh Long

    9.2.1. Nêu một điển hình tiêu biểu (tập thể hoặc cá nhân) trong xây dựng nông thôn mới ở địa phương, đơn vị:

           Gia đình ông Nguyễn Văn Tá, tổ dân phố số 11, thị trấn Thịnh Long là một trong những tấm gương tiêu biểu trong việc tự nguyện hiến đất, để xây dựng đường bê tông nông thôn, góp phần xây dựng nông thôn mới.

    Là một người dân từng làm nhiều nghề để sinh sống: làm muối, nghề chài lưới, và hiện tại vừa làm nông nghiệp vừa là thợ xây. Hơn ai hết ông Tá đã thấu hiểu được sự vất vả để làm ăn ở một vùng quê. Đặc biệt nhà cạnh trường học cấp 2 của Thị Trấn, ngôi trưởng cũ cạnh đường giao thông, gần ủy ban thuận tiện là thế. Nhưng khi chuyển đến địa điểm mới, trường lại nằm khiêm tốn phía trong khu dân cư khu 11. Mặc dù đường “ Biên Phòng” to, rộng chạy ngang trước trường nhưng còn cách xa cổng trường tới gần 300m , trước trường liền kề lại là đất và nhà của dân. Chứng kiến cảnh học sinh và phụ huynh mỗi lần đến trường đều phải đi rất lòng vòng, có khi phải đi đường tắt. Người nơi khác có việc đến trường đều gặp phải khó khăn...

    Nhân dịp kỉ niệm 50 ngày thành lập trường THCS Thịnh Long. Khi UB Thị Trấn và nhà trường cấp 2 triển khai đề án; mở một đường nối thẳng từ cổng trường cấp 2 ra tới đường Biên Phòng. Hiểu được khó khăn vướng mắc của nhà trường, ông Tá đã vận động người thân trong gia đình, đồng thời những hộ lân cận tự nguyện hiến đất để giúp trường cấp 2 mở đường. Riêng nhà ông Tá đã tự nguyện hiến hơn 100m chiều dài và 3m chiều rộng. Con đường mới cắt qua mảnh vườn màu trồng cấy bấy lâu nay của gia đình ông, vậy mà ông không hề đòi hỏi tiền đền bù. Gặp ông khi tâm sự với tôi. Ông chỉ cười và bảo: ”..Thôi.! vì cái lợi ích chung của tập thể, vì mọi người. Nhà mình chịu hy sinh một tý, cháu ạ..!”. Nụ cười hiền hậu của ông thật có ý nghĩa, nụ cười ấy sẽ tiếp đến với mỗi học sinh trường THCS Thịnh Long khi đến trường. Bởi giờ đây các em đã có một con đường bê tông, mặt đường rộng 4m, khang trang , sạch đẹp đến trường, nối liền với con đường lớn chạy ngay qua trường.

    Ông Nguyễn Văn Tá là một điển hình tiêu biểu trong xây dựng nông thôn mới ở khu dân cư. Từ đây có thấy một bài học kinh nghiệm trong vấn đề giải quyết giữa quyền lợi, lợi ích cá nhân và tập thể và đặc biệt trong vấn đề xã hội hóa là: ở đâu dân đồng thuận, thấu tình đạt lí thì ở đó mọi việc đều xong.

     

    9.2.2. Bản thân phải làm gì để góp phần xây dựng nông thôn mới ở địa phương, đơn vị:

        Xây dựng nông thôn mới là công cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng nông thôn, xã gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện( nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ);có nếp sống văn hóa, môi trường và an ninh thông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao.

       Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân , của cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế- xã hội, mà là vấn đề kinh tế- chính trị tổng hợp. Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh.

        Bản thân tôi luôn xác định đóng góp phần nhỏ bé vào công cuộc chung xây dựng nông thôn mới ở địa phương: luôn gương mẫu chấp hành đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước và quy định của địa phương. Mỗi gia đình là một tế bào của xã hội ,vì vậy trước tiên trong mỗi gia đình của khu dân cư phải tốt. Tôi luôn phấn đấu để gia đình hòa thuận, hạnh phúc, tiến bộ, đồng thời cũng giúp đỡ mọi người ở cộng đồng dân cư mình sinh sống hòa thuận, tin yêu, cùng giúp nhau trong cuộc sống.

     

     

     

     

     

     

     

                                                                   Thịnh Long, ngày 27 tháng 12 năm 2012

     

                                                                                         Nguyễn Minh Trí

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Minh Trí @ 21:37 22/01/2013
    Số lượt xem: 5671
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    PHÓNG SỰ VỀ TRƯỜNG THPT THỊNH LONG

    TRANH THU PHÁP

     photo THUPHAPHAN_zps98ec021b.gif

    CHÚC MỪNG 20/11